Kiến là mối lo lớn nhất, nhưng không phải duy nhất.
Vài loài khác cũng gây phiền, mỗi loài có dấu hiệu và cách xử lý riêng.
Mối: có đường đất nhỏ chạy dọc chân kê hoặc thành thùng. Gõ vào gỗ nghe rỗng. Mối không tấn công đàn nhưng phá thùng và chân kê, dẫn tới thùng đổ.
Chuột: chủ yếu phá thùng để trống hoặc thùng có đàn quá yếu. Có vết gặm ở mép gỗ.
Thằn lằn, nhện: rình bắt ong ở cửa tổ. Số lượng bắt được ít nên ít khi gây hại đáng kể.
Ong lạ hoặc côn trùng khác vào cướp mật: thấy khi đàn yếu, có xô xát ở cửa tổ.
| Loài | Gây hại gì | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Kiến | Tấn công đàn, phá bọng | Chân chống, cắt cầu nối |
| Mối | Phá thùng và chân kê | Đổi chân kê, kiểm định kỳ |
| Chuột | Phá thùng trống hoặc đàn yếu | Cất thùng trống nơi kín |
| Thằn lằn, nhện | Bắt ong ở cửa | Dọn quanh thùng, ít khi cần làm gì |
| Côn trùng cướp mật | Chỉ khi đàn yếu | Xử lý nguyên nhân làm đàn yếu |
Mối không tấn công đàn ong nhưng làm hỏng thùng và chân kê, và hậu quả cuối cùng là thùng đổ.
Kiểm định kỳ: gõ nhẹ vào chân kê và đáy thùng, nghe rỗng thì có thể đã bị ăn.
Xem có đường đất nhỏ chạy dọc chân không.
Nếu phát hiện thì đổi chân kê sang loại mối không ăn được: trụ gạch, bê tông, hoặc sắt.
Không dùng thuốc chống mối gần thùng ong, vì ong dú nhạy mùi.
Thùng đã bị mối ăn nhiều thì chuyển đàn sang thùng khác.
Đây là chỗ chuột và mối hay tấn công nhất, và cũng dễ quên nhất.
Thùng trống có mùi sáp và nhựa cây còn sót, hút chuột tới gặm.
Cách phòng: làm sạch thùng ngay sau khi thu về, phơi nắng, rồi cất nơi khô ráo và kín.
Đừng để thùng trống ngoài vườn qua mùa mưa.
Kiểm lại trước khi dùng lại: gõ nghe rỗng, có vết gặm, hoặc có mùi lạ thì xử lý trước.
Vài con thằn lằn hoặc nhện quanh khu nuôi là bình thường và không đáng lo.
Chúng bắt được rất ít so với quy mô đàn, và cũng ăn cả những côn trùng khác.
Chỉ khi thấy chúng tập trung nhiều ở đúng cửa tổ và đàn đang yếu thì mới nên dọn bớt.
Nói chung với những loài này thì can thiệp ít là hợp lý, khác hẳn với kiến.
Đàn khoẻ tự chống trả được với phần lớn loài quấy phá.
Khi thấy nhiều loài cùng quấy một tổ thì thường là dấu hiệu đàn đó đang yếu sẵn.
Vì vậy nên tìm nguyên nhân làm đàn yếu, thay vì chỉ xử lý phần quấy phá.
Và ưu tiên biện pháp cơ học: chân chống, phát quang, đổi vật liệu. Hoá chất gần khu nuôi thì hại nhiều hơn lợi.
Ở Nhà Ong Dú, nguyên tắc này được giữ cho mọi loại sự cố.
Không, nhưng phá thùng và chân kê dẫn tới thùng đổ.
Thường không cần. Chúng bắt được rất ít.
Chủ yếu là vấn đề với thùng trống. Cất nơi khô ráo và kín.
Không dùng gần thùng ong. Đổi chân kê sang trụ gạch hoặc sắt.
Thường là dấu hiệu đàn đó đang yếu sẵn.
Đây là nguyên nhân mất đàn số một trong nghề nuôi ong dú. Cách xử lý khi đang xảy ra và cách chặn nó lại ngay từ gốc rễ.
Sự cố hay gặp ở vùng ẩm và sau những mùa mưa dài. Nguyên nhân thật đằng sau, cách xử lý theo từng mức độ và cách phòng ngừa.
Không cần mở thùng ra tìm chúa làm gì. Dấu hiệu gián tiếp, mốc thời gian cần nhớ và cách xử lý nếu đúng là đàn mất chúa.
Hiếm gặp hơn chuyện mất đàn vì kiến nhưng vẫn xảy ra. Những nguyên nhân đã được ghi nhận và cách phòng tránh ngay từ đầu.
Xác ong nằm nhiều trước cửa sau khi vườn quanh đó phun thuốc. Cách nhận biết cho đúng và những gì thực sự làm được lúc đó.
Gió bão, vật nuôi húc phải, hoặc do chân kê đã mục. Cách xử lý ngay tại chỗ và cách gia cố lại cho những mùa bão sau này.
Thùng nuôi và nhà ong dú: vật liệu, kích thước, độ dày gỗ, cách chống nóng, chống mưa hắt, cách bố trí giá kệ. Thiên về kỹ thuật dụng cụ và tự làm thùng.